Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công. Toàn đảng, toàn dân, toàn quân học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
CHUYÊN MỤC CHÍNH
Số lượt truy cập
1,171,639
Một số biện pháp để xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử với người khuyết tật
( Cập nhật:22/8/2019 07:02:38)

Theo điều tra của tổ chức Liên hợp quốc (LHQ), hiện nay trên thế giới có khoảng 7,7 triệu người, thì trong đó có trên 600 triệu người khuyết tật (NKT). Ở Việt Nam, với trên 90 triệu người thì có tới 6,7 triệu NKT trong độ tuổi từ 5 trở lên, chiếm 7,8 % dân số. Ở tỉnh Hải Dương có trên 1,8 triệu dân, trong đó có khoảng 4vạn NKT chiếm 2,3 % dân số...

 

Lãnh đạo Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ mồ côi (NTT&TMC) tỉnh và các nhà hảo tâm trao tặng xe lăn cho người khuyết tật huyện Nam Sách

Có thể nói, những NKT là những người kém may mắn và thiệt thòi trong xã hội. Bởi khuyết tật nên hầu hết họ phải sống nhờ vào gia đình, ít có cơ hội học văn hóa, học nghề, giao tiếp xã hội và lao động ra sản phẩm… Rất nhiều nguyên nhân dẫn đến con người có thể trở thành NKT, như: bẩm sinh, bệnh tật, chiến tranh, tai nạn, rủi ro… Vấn đề NKT hiện đang là một mối lo, một vấn đề lớn trên thế giới, bởi nó liên quan tới vấn đề kinh tế và an sinh xã hội của mỗi nước. Vì vậy, nước nào cũng có những chính sách để khắc phục khó khăn về vật chất và tinh thần cho NKT, tạo điều kiện cho NKT vươn lên hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, đến nay chưa nước nào công bố là đã làm thật tốt vấn đề NKT.

Ở nước ta, từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tới nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản thể hiện sự quan tâm đến NKT, điển hình như: Pháp lệnh về NKT do Quốc hội ban hành năm 1988; đặc biệt là Luật Người Khuyết tật được Quốc hội ban hành năm 2010… Nhờ những văn bản đó mà NKT nước ta đã được cải thiện rất nhiều về thể chất và tinh thần, nhiều NKT đã tích cưc vươn lên hòa nhập cộng đồng. Hằng năm, trong cả nước đã có hàng nghìn NKT thoát nghèo, không ít người có thành tích đáng kể trong hoạt động học tập, lao động sản xuất, kinh doanh, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao…, được xã hội hoan nghênh, cổ vũ. Song, bên cạnh những kết quả đó vẫn còn nhiều mặt hạn chế trong việc thực hiện các chính sách về NKT như: công tác tuyên truyền, kiểm tra thực hiện các văn bản về chính sách đối với NKT; nhận thức của nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của NKT; nguồn lực tài chính và nhân lực để thực hiện các chính sách về NKT chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn… Đặc biệt, sự kỳ thị và phân biệt đối xử của một số người trong xã hội đối với NKT đang là một rào cản lớn, khiến những NKT còn gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy, việc đưa ra những biện pháp để xóa bỏ sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với NKT là một việc làm cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Theo Luật người khuyết tật, định nghĩa: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận ở cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến lao động, sinh hoạt, học tập khó khăn”. “Kỳ thị NKT là thái độ khinh thường hoặc thiếu tôn trọng NKT vì lý do khuyết tật của người đó”. “Phân biệt đối xử với NKT là hành vi xa lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của NKT vì lý do khuyết tật của người đó”.

Kỳ thị và phân biệt đối xử gắn bó hữu cơ với nhau. Kỳ thị (KT) nằm trong nguồn gốc của phân biệt đối xử (PBĐX), khiến con người hành động làm tổn hại hoặc phủ nhận quyền của người khác. PBĐX được hiểu như là sự KT bằng hành động. Đến lượt nó, PBĐX khuyến khích và củng cố cho sự KT. Chẳng hạn, vì kỳ thị với NKT mà dùng các từ: “Thằng mù” đối với người khiếm thị, “con điên” đối với người khiếm khuyết về thần kinh”… Còn hành vi PBĐX với NKT thì có thể thấy ở nhiều lĩnh vực trong xã hội. Chẳng hạn, như: Trong gia đình, nhiều thành viên coi NKT là “gánh nặng”, NKT bị coi thường, bị bỏ đói, không chăm sóc, thậm chí còn bị khóa, xich trong nhà, bắt đi ăn xin… Trong cộng đồng, NKT ít được tham gia các sinh hoat xã hội, thường bị lăng mạ, ít được đi học, ít được đào tạo nghề, ít đươc kết hôn, bị từ chối phuc vụ ở các cửa hàng, bị lạm dụng tình dục…

Một số biện pháp để từng bước hạn chế, tiến tới xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử với NKT:

Một là, Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, truyền thông về xóa bỏ KT và PBĐX đối với NKT đến tất cả các đối tượng là: cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lao động, trong các địa phương, đơn vị, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp… Nội dung tuyên truyền về các đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng, pháp Luật của Nhà nước về NKT, đặc biệt là Luật NKT. Trong tuyên truyền không những cần giải thích cho mọi người hiểu rõ nội dung của các văn bản mà còn phải nhấn mạnh tầm quan trọng và việc phải thực hiện nghiêm các chủ trương, chính sách, bởi đó là trách nhiệm của mỗi tập thể và cá nhân.

Hai là, trong thông tin, giáo dục, truyền thông cần đảm bảo một số nguyên tắc: khuyến khích sự hiểu biết của mọi cấp, mọi ngành, mọi người về quyền của NKT và trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình phải chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NKT. Khuyến khích mọi cá nhân có trách nhiệm tôn trọng, trợ giúp và giúp đỡ NKT. Những điểm này đã được ghi trong Điều 7, Điều 8 của Luật NKT; thúc đẩy những quan điểm tích cực về NKT; không tiêu cực hóa những câu chuyện về NKT, bởi như vậy dễ làm cho cộng đồng quay lưng lại với NKT. Tôn trọng sự khác biệt, ghi nhận những kỹ năng, phẩm chất, năng lực và những đóng góp của NKT. Huy động những NKT cùng tham gia vào các hoạt động truyền thông, bởi hình ảnh tích cực của họ sẽ góp phần làm thay đổi nhận thức của cộng đồng về hình ảnh NKT, ngoài ra còn góp phần động viên những NKT khác cũng phấn đấu vươn lên.

Ba là, cần thực hiện tốt một số hình thức thông tin, giáo dục, truyền thông cơ bản, như dùng hệ thống thông tin đại chúng: phát thanh, truyền hình, sách, báo, tạp chí, pa nô, áp phích… với những thể loại tin, bài, phóng sự, các chuyên mục hỏi đáp, tiểu phẩm… phù hợp.

Tổ chức các cuộc hội thảo cho các cấp lãnh đạo, các cơ quan, đoàn thể, các doanh nghiệp, chủ lao động, các gia đình và ngay cả đối với NKT về xóa bỏ KT và PBĐX với NKT nhằm  nâng cao hiểu biết về NKT, từ đó quan tâm giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần cho NKT.

Đẩy mạnh thông tin, giáo dục, truyền thông ở các thôn, khu dân cư, như các cuộc họp thôn, tổ dân phố, cử tuyên truyền viên đến các gia đình để tuyên truyền, phát tờ rơi về xóa bỏ KT và PBĐX với NKT.

Tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về NKT, nhằm ca ngợi những gương người tốt, việc tốt, đồng thời cũng phê phán những hiện tượng KT và PBĐX với NKT. Những hoạt động này cần khuyến khích những NKT cùng tham gia, để mọi người hiểu thêm về khả năng của NKT, cũng góp phần giảm thiểu sự KT và PBĐX với NKT. Đặc biệt, cần tập trung đẩy mạnh chiến dịch truyền thông vào các dịp như: kỷ niệm “Ngày Người khuyết tật Việt Nam 18/4”, “Ngày Quốc tế Người Khuyết tật 3/12” hàng năm.

Bốn là, cần dùng những từ ngữ thích hợp về NKT trong các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, truyền thông. Chẳng hạn, không nên dùng từ “người điếc” mà dùng từ “người khiếm thính”; không nên dùng từ “người điên” mà dùng từ “người khuyết tật về thần kinh”… đó chính là cách dùng từ để tránh làm ảnh hưởng tới hình ảnh và nhân cách của NKT, đồng thời cũng là cách để cộng đồng tôn trọng NKT, hạn chế sự KT và PBĐX với NKT.

Năm là, cần có ứng xử phù hợp với NKT khi giao tiếp với NKT trong các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông. Khi giao tiếp với NKT, nên dùng câu hỏi ngắn, dễ hiểu, dưới dạng câu hỏi “mở” để hỏi, tránh dùng những câu hỏi “đóng”. Chẳng hạn, thay vì hỏi: “Anh làm bảo vệ ở công ty này à?”. Thì nên hỏi: “Anh có thể kể cho tôi nghe công việc anh đang làm ở công ty này không?”… Khi phải nói chuyện với người ngồi xe lăn quá 5 phút, thì nên bố trí để có thể ngồi ở vị trí ngang bằng với họ. Khi phải thảo luận với một nhóm người khiếm thị, thì nên gọi tên người mình cần nói chuyện và nói với mức giọng vừa phải, không nói to quá và cũng không nói nhỏ quá… Những cách ứng xử trên sẽ phù hợp với đặc điểm tâm lý của NKT, đồng thời cũng chính là sự tôn trọng NKT, giúp những người xung quanh hạn chế kỳ thị và PBĐX với NKT.

Sáu là, động viên, khen thưởng đúng mức những việc làm, những hành động tốt đối với NKT và tuyên truyền, nhân rộng những việc làm đó. Đồng thời có hình thức phê bình, xử lý kịp thời đối với những tập thể, cá nhân thực hiện không tốt những quy định của pháp luật đối với NKT, đặc biệt là những biểu hiện KT, PBĐX với người khuyết tật.

Tin tưởng rằng, nếu mỗi địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, tập thể và cá nhân đều quan tâm và thực hiện tốt một số nội dung biện pháp nêu trên, thì chắc chắn chúng ta sẽ sớm xóa bỏ KT và PBĐX với NKT, góp phần giúp NKT vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giầu đẹp, văn minh./.

Khúc Kim Tính, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Bảo trợ NTT&TMC tỉnh

[Ý kiến của bạn]
Các tin mới hơn
na Những bài học kinh nghiệm rút ra qua việc tổ chức Đại hội Hội Cựu giáo chức các cấp(13/10/2019)
na Vai trò của các cấp Hội Phụ nữ Hải Dương tham gia xây dựng nông thôn mới(04/10/2019)
na Huyện Tứ Kỳ: Thăm, tặng quà người cao tuổi nhân Ngày Quốc tế Người cao tuổi (1/10)(01/10/2019)
na Kinh Môn: Thăm, tặng quà người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn(01/10/2019)
na Huyện Thanh Miện thăm, tặng quà người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống(30/09/2019)
Các tin cũ hơn
na Hội Cựu TNXP tỉnh tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm ngày truyền thống TNXP Việt Nam và ngày Thương binh - liệt sỹ (06/08/2019)
na Hội Nông dân tỉnh tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới(04/08/2019)
na Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ mồ côi tỉnh tặng quà các thương binh, gia đình liệt sĩ(26/07/2019)
na Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (24/07/2019)
na Hội Khuyến học tỉnh sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2019(17/07/2019)
TIN ẢNH
VIDEO
bien quang cao